CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chất lượng

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc một trong hai bên gồm người lao động (NLĐ) hoặc người sử dụng lao động (NSDLĐ) có thể tự chấm dứt hợp đồng không cần có thỏa thuận với bên còn lại nhưng vẫn được pháp luật công nhận. Đơn phương chấm dứt hợp đồng chỉ được chấp nhận trong một số trường hợp luật định. Mặc dù đã có quy định về những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được pháp luật công nhận, nhưng cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng vi phạm pháp luật lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ vẫn đang diễn ra phổ biến.

Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;
d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;
đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;
g) NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.
Cùng với việc thuộc vào một trong các trường hợp trên, NLĐ ng phải báo cho NSDLĐ biết trước:
– Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g trên;
– Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ.
– Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho NSDLĐ tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
– NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho NSDLĐ biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường nghỉ thai sản.
Do vậy, nếu NLĐ nghỉ việc không có căn cứ luật định và không tuân thủ thủ tục báo trước cho NSDLĐ sẽ bị coi là nghỉ việc trái pháp luật và sẽ phải chịu hậu quả pháp lý quy định tại Điều 43 như sau:
– Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
– Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho NSDLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước.
– Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho NSDLĐ.
Hơn nữa, theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm 2013, NLĐ nghỉ việc trái pháp luật là một trong những căn cứ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Quy định về việc sử dụng hóa đơn điện tử

Việc sử dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) mang lại lợi ích cho cả 3 bên: người bán; người mua và cơ quan quản lý trong đó có CQT. Cụ thể, sử dụng hóa đơn điện tử giúp ngành thuế xây dựng cơ sở dữ liệu về hóa đơn. Chính vì lợi ích như vậy mà xu hướng sẽ là doanh nghiện khi sử dụng hóa đơn điện tử sẽ truyền dữ liệu về cho CQT để tạo nên một cơ sở dữ liệu về HĐĐT
HĐĐT là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, dịch vụ gồm 2 loại: HĐĐT của doanh nghiệp và HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế. Theo đó, HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế là HĐĐT được cơ quan thuế cấp mã xác thực và số xác thực qua hệ thống xác thực hóa đơn của cơ quan thuế, hoặc của tổ chức T-Van. HĐĐT của doanh nghiệp là HĐĐT được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức kinh doanh đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.










Nhìn chung, HĐĐT trên thế giới đã được sử dụng từ lâu nhất là ở các quốc gia phát triển với điều kiện cơ sở hạ tầng thông tin và trình độ tin học phát triển. Thực tiễn áp dụng cho thấy sử dụng HĐĐT giảm thiểu chi phí chung toàn xã hội liên quan trực tiếp đến in ấn, lưu trữ và truyền tải cũng như mất mát hư hỏng hóa đơn.
Như vậy sau khi đọc xong bài viết thì  câu hỏi hóa đơn điện tử có bắt buộc không đã được giải đáp kĩ lưỡng. Hóa đơn điện tử là xu thế tất yếu của mọi doanh nghiệp, tổ chức. Doanh nghiệp nên tiến hành chuyển đổi hóa đơn truyền thống sang phương tiện hóa đơn hiện đại này để nâng cao lợi nhuận cũng như tiết kiệm thời gian và nhân lực.
Lộ trình chuyển đổi từ việc sử dụng hóa đơn tự in, hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử được thực hiện trong vòng 24 tháng, từ ngày 1/11/2018 đến 1/11/2020
Nghị định 119/2018/NĐ-CP quy định chậm nhất là ngày 1/11/2020 phải hoàn thành việc tổ chức thực hiện sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong sử dụng hóa đơn khi bán hàng, cung cấp dịch vụ, Nghị định 119 đã đưa ra lộ trình chuyển đổi từ việc sử dụng hóa đơn tự in, hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử trong vòng 24 tháng, từ ngày 1/11/2018 đến 1/11/2020.
Theo đó, đối với những đối tượng thuộc trường hợp bắt buộc phải chuyển đổi sang sử dụng HĐĐT cần lưu ý những mốc thời gian sau đây:
*Từ ngày 01/11/2020:
Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ, cá nhân kinh doanh phải hoàn thành xong việc chuyển đổi sang HĐĐT, HĐĐT có mã của cơ quan thuế theo quy định.
Cũng từ ngày này Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành.
*Từ ngày 01/11/2018 – ngày 31/10/2020:
– Trường hợp cơ quan thuế thông báo cơ sở kinh doanh chuyển đổi áp dụng HĐĐT có mã nhưng cơ sở kinh doanh chưa đủ điều kiện về công nghệ thông tin để áp dụng thì được tiếp tục sử dụng hóa đơn theo hình thức cũ nhưng phải gửi mẫu theo Phụ lục 03 và tờ khai thuế giá trị gia tăng đến cơ quan thuế.
– Cơ sở kinh doanh mới thành lập trong thời gian này nếu được cơ quan thuế yêu cầu sử dụng HĐĐT thì phải áp dụng HĐĐT. Trường hợp chưa đủ điều kiện để áp dụng HĐĐT thì được phép sử dụng Hóa đơn giấy theo quy định tại Nghị định 51/2010.
– Trường hợp doanh nghiệp đã đặt in; thông báo phát hành hóa đơn, hóa đơn in tự in hoặc đặt mua hóa đơn của cơ quan thuế trước ngày 01/11/2018 thì được tiếp tục sử dụng số hóa đơn đó đến ngày 31/10/2020 theo quy định của Nghị định 51/2010.
*Trước ngày 01/11/2018:
Doanh nghiệp đã thực hiện thông báo phát hành HĐĐT hoặc đăng ký sử dụng HĐĐT của cơ quan thuế trước ngày này thì vẫn được tiếp tục sử dụng

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

Quy chế dân chủ tại doanh nghiệp

Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc là những quy định về quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động với các nội dung người lao động được biết, được tham gia ý kiến, được quyết định, được kiểm tra, giám sát và các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Thực hiện quy định đối thoại tại nơi làm việc theo Khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động: “Người sử dụng lao động, người lao động có nghĩa vụ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định của Chính phủ”, Chính phủ đã ban hành Nghị định 149/2018/NĐ-CP quy định chi tiết việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Nghị định này có hiệu lực từ 01/01/2019 và thay thế Nghị định 60/2013/NĐ-CP.
Thực hiện Quy chế dân chủ, người quản lý công ty, quản lý đơn vị bước đầu đã hiểu được trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động trong doanh nghiệp. Thông qua việc thực hiện Quy chế dân chủ ở công ty, người lao động đã dần ý thức được tầm quan trọng và trách nhiệm của bản thân mình. Người lao động có quyền đóng góp ý kiến, quyền quyết định một số vấn đề trong doanh nghiệp, hay kiểm tra, giám sát những hoạt động liên quan đến quyền, lợi ích của mình. Người lao động được tham gia ý kiến bằng văn bản, biểu quyết tại hội nghị người lao động, trong những cuộc họp triển khai sản xuất của phòng, ban, tổ, đội sản xuất hoặc thông qua tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên,… về những nội dung đã được người sử dụng alo động công bố công khai
Nghị định đã quy định các Nội dung người sử dụng lao động phải công khai tại Điều 4, Nội dung người lao động được tham gia ý kiến tại Điều 5, Nội dung người lao động được quyết định tại Điều 6, Nội dung người lao động được kiểm tra, giám sát tại Điều 7.
Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc phải có sự tham gia ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và được phổ biến công khai đến người lao động trước khi thực hiện. Người sử dụng lao động sử dụng dưới 10 người lao động được miễn trừ tổ chức hội nghị người lao động theo quy định tại Điều 9 và ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc bằng văn bản theo quy định tại Điều 11 của Nghị định này.
Quy chế dân chủ là một trong những quy chế cần xây dựng và công khai tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần biết và thực hiện Nếu vi phạm quy định này, theo quy định tại Điều 11 Nghị định 95/2013/NĐ-CP, doanh nghiệp sẽ phải chịu chế tài như sau:
“Điều 11. Vi phạm quy định về đối thoại tại nơi làm việc
  1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
  2. a) Không thực hiện nghiêm chỉnh quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định pháp luật;”
Việc thực hiện Quy chế dân chủ nơi làm việc trong các doanh nghiệp góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa giữa doanh nghiệp và người lao động trong quá trình sản xuất, kinh doanh; đồng thời là cơ sở quan trọng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Bài viết này cung cấp quy định mới về Quy chế dân chủ để các doanh nghiệp được biết.

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong công ty đại chúng

Ngày 26/05/2015, Chính Phủ ban hành Nghị Định số 60/2015/NĐ-CP (Nghị Định 60) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định 58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính Phủ (Nghị Định 58) quy định chi tiết và hướng dẫn thi thành một số điều của Luật Chứng Khoán. Nghị định 60 đã dỡ bỏ hạn chế sở hữu nước ngoài áp dụng đối với chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên việc dỡ bỏ này có kèm theo điều kiện.
Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư nhiều hơn 49%, hoặc thậm chí 100%, vốn có quyền biểu quyết của công ty đại chúng trong trường hợp phạm vi đăng ký kinh doanh của công ty này bao gồm các ngành, nghề mà luật Việt Nam, hoặc cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, hoặc điều ước quốc tế khác trong trường hợp được áp dụng cho phép nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư như vậy. Hơn nữa, khi một công ty đại chúng hoạt động ngành nghề không phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài, và ngành nghề đó cũng chưa được luật Việt Nam quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì không có hạn chế sở hữu đối với nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong trường hợp các công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài và khi luật Việt Nam cũng như điều ước quốc tế chưa có quy định cụ thể về sở hữu nước ngoài trong ngành nghề kinh doanh đó, thì vẫn áp dụng quy định về giới hạn 49% vốn có quyền biểu quyết trong công ty đại chúng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/09/2015 và hiện vẫn được áp dụng.






Gần đây, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đăng tải toàn văn dự thảo Luật Chứng khoán và dự thảo tờ trình Chính phủ của dự án Luật Chứng khoán để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến. Dự kiến, Luật Chứng khoán (sửa đổi) sẽ trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua vào quý 4/2019. Một trong những nội dung đáng chú ý, đó là việc mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với các công ty đại chúng đang nhận được đưa ra lấy ý kiến.
Theo Khoản 1 Điều 32 Dự thảo Luật Chứng khoán: “Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại công ty đại chúng là không hạn chế, ngoại trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Trường hợp công ty đại chúng hoạt động đa ngành, nghề có quy định khác nhau về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài không vượt quá mức thấp nhất trong các ngành, nghề có quy định cụ thể về tỷ lệ sở hữu nước ngoài”. Như vậy, tỷ lệ sở hữu vốn có quyền biểu quyết hiện nay đã được mở rộng đến 100% kể cả những ngành nghề kinh doanh có điều kiện mà Chính phủ không quy định tỷ lệ sở hữu. Dự thảo sửa đổi cho phép người nước ngoài được quyền nắm đa số cổ phần của các công ty hoạt động trong lĩnh vực được coi là không quan trọng đối với an ninh quốc gia. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các công ty Việt Nam vẫn sẽ cần phải nhận được sự chấp thuận của cổ đông để nắm giữ 100% quyền sở hữu. Đây được coi là sửa đổi quan trọng đầu tiên của Luật chứng khoán kể từ năm 2010.
Việc loại bỏ giới hạn sở hữu 49% sẽ cho phép các công ty nước ngoài có thêm quyền quản lý. Đây là động lực để các nhà đầu tư gia nhập thị trường Việt Nam và mở rộng kinh doanh, là điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã và đang tạo điều kiện cho cách doanh nghiệp phá bỏ mức trần sở hữu vốn nướng ngoài, nhưng việc quyết định nâng mức sở hữu vẫn phụ thuộc vào các cổ đông của công ty. Cần lưu ý việc nâng mức sở hữu nước ngoài lên từ 51% trở lên sẽ khiến doanh nghiệp từ doanh nghiệp trong nước trở thành doanh nghiệp nước ngoài. Do doanh nghiệp hay nhà đầu tư nước ngoài phải chịu một số giới hạn, ràng buộc nhất định trong hoạt động kinh doanh so với doanh nghiệp trong nước. Chẳng hạn, khi có trên 51% vốn nước ngoài, doanh nghiệp muốn mua cổ phần trên thị trường chứng khoán sẽ phải đăng ký mã số giao dịch chứng khoán với Trung tâm Lưu ký chứng khoán; với các công ty chứng khoán có nước ngoài nắm trên 51% thì sẽ phải chịu ràng buộc về tự doanh, thanh toán, vay và cho vay đầu tư chứng khoán theo hướng chặt hơn các công ty chứng khoánh nội địa; các doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài trở lên sẽ không được kinh doanh một số ngành nghề như phân phối lúa gạo, đường mía, thuốc lá, dầu thô, dược phẩm,… Do đó, khi tiến hành việc nâng mức sở hữu vốn nước ngoài, các doanh nghiệp cần phải thận trọng trước khi đưa ra quyết định.

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Một số thay đổi quy định pháp luật trong lĩnh vực thương mại điện tử

Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tiềm năng phát triển thương mại điện tử. Đến nay, các loại hình kinh doanh thương mại điện tử mới nhất trên thế giới đều đã xuất hiện tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong khi các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp dịch vụ trong nước hoặc xuyên biên giới qua thương mại điện tử hàng năm thu được một nguồn lợi khá lớn từ thị trường Việt Nam, thì cơ quan thuế vẫn rất khó khăn trong việc tìm ra giải pháp để buộc các tổ chức, cá nhân này đóng thuế theo quy định của pháp luật.
Với tốc độ phát triển internet như hiện nay, hoạt động thương mại điện tử sẽ ngày càng gia tăng, kéo theo các hình thức kinh doanh thương mại điện tử cũng sẽ ngày càng phát triển đa đạng và phức tạp. Giao dịch thương mại điện tử có những đặc điểm ảo, khó kiểm chứng thông tin nhận dạng, tính rộng lớn, tính quốc tế, dễ dàng xóa bỏ, thay đổi thông tin nên tạo sự khó khăn trong việc nắm bắt các giao dịch. Hơn nữa, hoạt động thương mại điện tử được thực hiện qua các phương tiện công nghệ thông tin như: điện thoại di động, máy tính, có thể phát sinh mọi lúc, mọi nơi, không giống như hình thức kinh doanh truyền thống có địa điểm đăng ký cố định. Ngoài ra, thông tin của người mua và người bán thường không hiển thị cụ thể, quy mô hoạt động kinh doanh, doanh thu,… cơ quan thuế muốn tìm kiếm cũng rất khó khăn.
Bước đầu đưa vào quản lý, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website thương mại điện tử (Sau đây gọi là “Thông tư số 47”) và Thông tư số 59/2015/TT-BCT quy định về quản lý hoạt động thương mại điện tử qua ứng dụng trên thiết bị di động (Sau đây gọi là “Thông tư số 59”). Gần đây, hai thông tư này đã được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 21/2018/TT-BCT có hiệu lực từ 18/10/2018 (Sau đây gọi là “Thông tư số 18”). Sửa đối đáng chú ý nhất là việc mở rộng đối tượng thông báo và đăng ký, cụ thể:
– Thông tư 21 đã bãi bỏ điều khoản liệt kê các đối tượng phải thông báo website thương mại điện tử bán hàng được quy định tại Điều 9 của Thông tư số 47, nhưng vẫn giữ nguyên hiệu lực của các quy định về quy trình thông báo. Do đó, nghĩa vụ thông báo website thương mại điện tử bán hàng với Bộ Công thương sẽ không giới hạn chỉ ba đối tượng như quy định cũ, mà thay vào đó, tất cả thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập website thương mại điện tử bán hàng đều phải thực hiện thủ tục thông báo này. Bên cạnh đó, tất cả các thương nhân hoặc tổ chức chỉ cần có website thương mại điện tử mà trên đó cung cấp ít nhất một trong ba dịch vụ: sàn giao dịch thương mại điện tử; khuyến mại trực tuyến; và đấu giá trực tuyến thì phải thực hiện hoạt động đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, cho dù có hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại hay hỗ trợ doanh nghiệp hay không.
– Thông tư 21 sửa đổi Thông tư 59 quy định đối tượng thông báo là chủ sở hữu ứng dụng bán hàng, bao gồm: thương nhân; tổ chức (bất kể tổ chức này chức năng nhiệm vụ tổ chức hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay hoạt động thương mại điện tử hay không); và cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân (bất kể cá nhân này có thuộc diện phải đăng ký kinh doanh hay không). Ngoài ra, thương nhân, tổ chức sở hữu ứng dụng di động bất kể có hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ doanh nghiệp hay không đều phải thực hiện thủ tục đăng ký ứng dụng di động của mình.
Việc mua bán qua thương mại điện tử đang nổi lên thành một xu hướng vì nó đem lại lợi ích cho cả người mua và người bán. Những vấn đề phát sinh trong thực tiễn sẽ được pháp luật đưa vào điều chỉnh. Do đó, khi tham gia vào một quan hệ nhất định, các cá nhân, doanh nghiệp cần phải nắm bắt kịp thời các quy định của pháp luật để có được hướng xử lý tốt nhất.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

Một số lưu ý khi soạn thảo hợp đồng

Trong thực tiễn của đời sống, các giao dịch trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại,… thường diễn ra hết sức thường xuyên và ngày càng phức tạp. Song song với sự phát triển đó, thì những rủi ro pháp lý cũng xảy ra ngày một nhiều hơn và không hề báo trước, nhất là đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, những rủi ro pháp lý trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng thường gây ra những thiệt hại nặng nề cả về mặt kinh tế lẫn uy tín của doanh nghiệp. Việc phòng và tránh được các rủi ro có thể xảy ra thông qua hợp đồng thực sự là một vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải quan tâm.
Vậy, làm thế nào để soạn được một bản hợp đồng có thể hạn chế rủi ro tối đa cho doanh nghiệp, bài viết sau xin đưa ra một số kinh nghiệm soạn thảo hợp đồng.
Về hình thức của hợp đồng. Một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là hình thức hợp đồng phải được công chứng, chứng thực trong trường hợp pháp luật có yêu cầu. Ví dụ như hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất, bất động sản, mua bán các phương tiện như ôtô, tàu thủy,… đều phải được lập thành văn bản và phải có công chứng. Nếu không đáp ứng các điều kiện này, giao dịch sẽ vô hiệu và không được pháp luật bảo vệ.
Về nội dung của hợp đồng. Trong một hợp đồng thường quy định rất nhiều điều khoản, vậy nội dung nào cần được chú trọng? Các điều khoản có thể kê đến như điều khoản định nghĩa, quyền và nghĩa vụ của các bên, chấm dứt hợp đồng,… Trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đều đã có các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, cho phép chấm dứt hợp đồng, bồi thường thiệt hại, do đó khi soạn thảo hợp đồng các bên có thể căn cứ vào đây để soạn thảo, trừ khi cần quy định thêm các trường hợp mở rộng thêm. Thực tế, điều đầu tiên khi soạn thảo hợp đồng các bên cần chú ý điều khoản đối tượng của hợp đồng, chủ thể là ai, mua bán hàng hóa nào, tổng trọng lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào, thời hạn giao hàng và thanh toán ra sao,… Không có điều luật nào quy định rõ ràng các nội dung này, do vậy chính các doanh nghiệp phải tự tạo một giao kết ràng buộc hai bên, đây sẽ là căn cứ để xem xét có sự vi phạm hợp đồng hay không, từ đó xác định trách nhiệm giữa các bên.
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, một điều khoản không kém quan trọng đó là điều khoản chọn luật và nơi giải quyết tranh chấp. Nếu có tranh chấp, trọng tài hoặc tòa án sẽ dựa vào những thỏa thuận này để xác định thẩm quyền giải quyết của mình. Nếu không thỏa thuận, sẽ xác định dựa trên các quy tắc tư pháp quốc tế để chọn luật và tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Do đây là điều khoản tùy nghi các bên tự thỏa thuận, các bên phải am hiểu rõ ràng luật pháp của nước sở tại và nước nơi thương nhân bạn hàng có trụ sở để có lợi nhất cho doanh nghiệp của mình.
Ngoài ra, trong xu thế toàn cầu hoá, tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp cũng như trong quá trình đàm phán hợp đồng. Trong lĩnh vực hợp đồng từ lâu đã hình thành những quy tắc ngôn ngữ riêng mà để đảm bảo tính chuyên nghiệp cũng như tránh được lỗi trong việc soạn thảo khiến việc soạn thảo hợp đồng trở nên không còn thông dụng và dễ dàng, nhất là đối với các hợp đồng thương mại quốc tế. Do vậy, doanh nghiệp cần phải tự trang bị các kiến thức về Tiếng anh pháp lý hoặc nhờ đến sự trợ giúp của luật sư để soạn thảo một bản hợp đồng chuyên nghiệp và hạn chế rủi ro một cách thấp nhất có thể.
Trên đây là một số lưu ý cơ bản trong quá trình soạn thảo hợp đồng, tuy nhiên soạn một hợp đồng hiệu quả khi hợp đồng đó đáp ứng các điều kiện cơ bản, đồng thời phù hợp điều kiện của các bên trong hợp đồng đó tạo điều kiện thực hiện hợp đồng lý tưởng, do vậy, các chủ thể của hợp đồng sẽ áp dụng linh hoạt các điều kiện thực tế của các bên cũng như quy định pháp luật để xây dựng một hợp đồng hiệu quả nhất.

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2018

Trách nhiệm tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân


Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ hôn nhân được xác lập giữa nam và nữ khi đủ điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn. Đăng ký kết hôn tạo lập một quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời cũng ràng buộc các chủ thể (vợ và chồng) trong quan hệ với những trách nhiệm pháp lý nhất định – trách nhiệm liên đới.
Trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng là trách nhiệm do vợ và chồng cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai phải thực hiện toàn bộ trách nhiệm. Trách nhiệm này thường phát sinh từ nghĩa vụ đối với tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Tài sản giữa vợ chồng gồm hai loại: tài sản chung và tài sản riêng. Đối với các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng sẽ do cả hai người cùng thỏa thuận và đồng ý thực hiện, do đó luôn tồn tại trách nhiệm liên đới. Ngoài ra, với các giao dịch do chỉ một bên thực hiện đối với tài sản chung như: đại diện trong quan hệ dân sự, kinh doanh; diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu; nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, đồng thời giao dịch này phải hợp pháp cũng phát sinh trách nhiệm liên đới.
Mặc dù về mặt nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự, tài sản của người nào thì chính người đó có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt; các nghĩa vụ, trách nhiệm phát sinh từ các quyền này sẽ do chính người đó chịu. Nhưng đối với tài sản riêng, vẫn tồn tại trường hợp giao dịch do chỉ riêng vợ hoặc chồng bằng tài sản của mình thực hiện nhưng vẫn phát sinh trách nhiệm liên đới đối với bên còn lại, có thể kể đến như việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
Việc quy định trách nhiệm liên đới về tài sản của vợ chồng vừa bảo đảm lợi ích của vợ chồng, lợi ích của gia đình, quyền lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng, và là cơ sở pháp lý giải quyết các tranh chấp trong thực tế. Vì vậy, việc quy định trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng là vô cùng quan trọng.